8 yêu cầu đối với giáo viên trung học phổ thông hiện nay

Ngày cập nhật : 06/03/2018

GV phải có năng lực giải quyết vấn đề. Cuộc sống của con người, suy đến cùng, là một chuỗi liên tục giải quyết vấn đề. Càng giải quyết tốt các vấn đề bao nhiêu, chất lượng cuộc sống của con người càng có nhiều cơ hội được nâng cao bấy nhiêu.

Hiện nay Việt Nam đang thực hiện một chuyển dịch kép: về tổng thể tiến lên nền kinh tế công nghiệp (phấn đấu trở thành nước về cơ bản có nền kinh tế công nghiệp vào năm 2020), và ở những bộ phận hoặc ở mặt nào đó đi vào nền kinh tế tri thức.

Nền kinh tế tri thức một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục - đào tạo phát triển; nhưng mặt khác, hết sức quan trọng, đòi hỏi rất nhiều ở giáo dục những khả năng mới về đội ngũ GV, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra, đánh giá...

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức, sự tác động của công nghệ đã làm cho thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc và thường xuyên. Cùng với mạng viễn thông toàn cầu cho phép trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, việc tiếp cận của mỗi người với tri thức nhân loại rất tiện lợi và với khối lượng lớn.

Thích ứng với điều đó, giáo dục phải chuyển từ việc coi trọng truyền thụ tri thức sang việc giáo dục cho mọi người khả năng tự học, tự giải quyết vấn đề, hợp tác với nhau là chủ yếu. Làm được điều đó, giáo dục mới cung cấp cho xã hội hiện đại những người lao động mới phù hợp.

Ảnh minh họa. KT internet

Các năng lực quan trọng của thời đại mới

Theo Daniel Pink, trong sách "Một tư duy hoàn toàn mới", nhân loại đang chuyển từ nền kinh tế-xã hội được xây dựng dựa trên khả năng tư duy logic, tuyến tính, máy móc của Thời đại Thông tin sang nền kinh tế-xã hội của Thời đại Nhận thức được xây dựng dựa trên óc sáng tạo, sự đồng cảm và những khả năng phát triển nội tại lớn lao.

Đó là “kỷ nguyên mà não trái thắng thế và Thời đại thông tin do nó phát sinh ra đang dần được thay thế bởi một thế giới mới mà tại đó các phẩm chất của não phải như sáng tạo, trực giác, sẽ nổi trội hơn.” Đặc điểm của kỷ nguyên này, theo Pink, là sự trỗi dậy của những năng lực xã hội dựa trên sự phát triển của não phải.

 Động lực của sự trỗi dậy này là sự dư thừa về vật chất, sự phát triển của nhân công tri thức rẻ của châu Á (do đó, đối với nước Mỹ, Anh, hay nhiều quốc gia phát triển cao khác, các lĩnh vực kinh tế dựa trên não trái sẽ bị xuất khẩu sang châu Á do chi phí lao động rẻ) và tự động hóa. Sự phát triển dư thừa về vật chất khiến con người ngày quan tâm và suy nghĩ nhiều hơn tới ý nghĩa của cuộc sống.

Thời đại Nhận thức được Daniel Pink mô tả với sự phát triển mạnh mẽ và sự thừa nhận rộng rãi của xã hội đối với những năng lực sau đây:

- Năng lực Thiết kế: Thiết kế có mặt ở mọi nơi. Thiết kế trở thành một trong những yếu tố quyết định lợi nhuận. Không phải cái hữu dụng là đẹp, mà cái đẹp là hữu dụng. Điều này trở thành động cơ cho các lĩnh vực cả văn hóa và kinh tế.

- Năng lực Hòa hợp: Đó là khả năng năng ghép nối những mảnh riêng lẻ với nhau, là khả năng tổng hợp hơn là phân tích. Nhạc trưởng của một dàn nhạc là hình ảnh ví dụ cụ thể của khả năng này.

- Năng lực Đồng cảm: Đó là khả năng hình dung bản thân ở vị trí của người khác và cảm nhận được những gì người khác cảm nhận. Đồng cảm tạo nên sự tự nhận thức, mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái, giúp mọi người làm việc cùng nhau cung cấp nền tảng đạo đức cho con người.

Trong tác phẩm nổi tiếng “Trí tuệ xúc cảm”, Daniel Goeman cũng chỉ rõ khả năng xúc cảm thậm chí còn quan trọng hơn khả năng tư duy thông thường. William Butller Yeats cũng nói: “Những người chỉ dựa vào giải thích mang tính logic, triết lý và lý trí cuối cùng cũng sẽ nhận thấy mình thiều đi phần quan trọng nhất của tâm hồn”. Thời đại Nhận thức đòi hỏi luật sư, bác sĩ, y tá, hội đồng xét xử, những nhà tư vấn… xem năng lực đồng cảm như một trong những năng lực nghề nghiệp hàng đầu.

- Năng lực Tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống: Không phải bây giờ con người mới đi tìm ý nghĩa cuộc sống, nhưng trong Thời đại Nhận thức, đây không phải là địa hạt đặc quyền của triết học. Hiện nay, thế giới có hàng trăm triệu người thường xuyên tham gia các hoạt động, các cuộc thảo luận về ý nghĩa cuộc sống. Điều này cho thấy sự cân bằng đang được tìm lại khi mà cuộc sống vật chất ngày càng đầy đủ. Đi tìm ý nghĩa cuộc sống, hay phát triển tâm linh, sẽ trở thành tâm điểm, một sự phát triển văn hóa cơ bản của Thời đại Nhận thức.

Hình ảnh có liên quan

Ảnh minh họa. KT internet

Bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỉ XXI

Theo báo cáo của Hội đồng quốc tế về "Giáo dục cho thế kỉ XXI" gửi UNESCO (Học tập - một kho báu tiềm ẩn), việc học tập suốt đời phải được đặt vào trung tâm của xã hội, đó là chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ XXI. Học tập suốt đời dựa trên 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người.

- Học để biết: là học để nắm kiến thức và biết cách học, nhằm tận dụng các cơ hội do giáo dục mang lại. Nó đòi hỏi một cách tiếp cận với bản thân việc học, phải hiểu cách nắm vững kiến thức, cách rèn luyện những khả năng phê phán, tò mò và tất nhiên cả trí nhớ. Học để biết chính là học cách làm như thế nào để phát triển sự tập trung, các kĩ năng ghi nhớ và khả năng tư duy để có thể tận dụng các cơ hội giáo dục hiện nay và suốt đời.

- Học để làm: là học để nắm được các kĩ năng nghề nghiệp và rộng hơn là kĩ năng giải quyết nhiều tình huống trong đời sống. Học để làm biến các kĩ năng cụ thể thành năng lực cá nhân, bao gồm: năng lực liên lạc với người khác hiệu quả; năng lực làm việc theo nhóm; năng lực xây dựng mối quan hệ xã hội có ý nghĩa; năng lực thích nghi trong công việc và trong cuộc sống; năng lực vận dụng kiến thức sáng tạo trong công việc; năng lực sẵn sàng chấp nhận rủi ro và giải quyết tranh chấp.

- Học cách chung sống: là học cách làm việc với người khác lâu dài, cảm nhận sâu sắc tính phụ thuộc lẫn nhau trong thực tiễn làm việc, biến đổi những căng thẳng thành sự đồng tâm, đoàn kết trong cố gắng chung, với tinh thần tôn trọng những giá trị của sự đa phương, đa dạng, của sự hiểu biết lẫn nhau và công cuộc bảo vệ hoà bình.

Học cách chung sống nhằm xây dựng: Kiến thức và hiểu biết về bản thân và những người khác; Nhận thức được sự đa dạng sắc tộc và những điểm tương đồng giữa các dân tộc và sự phụ thuộc của các dân tộc; Thông cảm và có thái độ hợp tác trong việc chăm sóc và chia sẻ; Tôn trọng người khác và văn hoá cũng như hệ thống giá trị của họ; Có khả năng tranh luận với người khác và giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại; Có khả năng làm việc cùng hướng tới mục tiêu chung.

- Học để làm người: là học để phát triển đầy đủ nhất tiềm năng sáng tạo của mỗi con người với toàn bộ năng lực của bản thân. Một đòi hỏi trong tương lai mà giáo dục phải xác định là : không được để một con người nào, tài năng nào - như một kho báu tiềm ẩn - không được khai thác. Học để làm người là tiếp thu được kiến thức, kĩ năng và giá trị có lợi trong việc xây dựng xã hội tri thức, có phẩm chất, văn hoá và sức khoẻ.

Khái niệm học tập suốt đời dẫn thẳng đến quan niệm về xã hội học tập - xã hội văn hoá. Lớp học không còn giữ vai trò độc quyền nữa. Có nhiều phương tiện mới, phương pháp mới, những cơ hội mới cho việc học. Các cơ sở giáo dục và toàn bộ hệ thống giáo dục sẽ phải tích hợp và sử dụng những ưu thế của những công cụ đó. Đồng thời giáo giới cũng phải quan tâm đến những yêu cầu cập nhật kiến thức và năng lực.

Quan hệ giữa người dạy và người học có sự thay đổi. Trước sự phát triển của đã phương tiện truyền thông, người thầy không còn giữ vai trò là người duy nhất cung cấp sự hiểu biết, là người độc quyền về kiến thức đối với người học.

Người thầy ngay nay cần phải có năng lực hướng dẫn người học tự học, tự đánh giá, có năng lực lôi cuốn các em tích cực tham gia quá trình giáo dục và đào tạo, biết thu thập và xử lí thông tin để tự biến đổi mình. Từ đó có một sự thay đổi lớn trong quan hệ giữa người dạy và người học, từ quan niệm "dạy học lấy người dạy làm trung tâm", chuyển sang quan niệm "dạy học lấy người học làm trung tâm".

Kết quả hình ảnh cho ảnh giáo viên học sinh

Ảnh minh họa. KT internet

8 yêu cầu đối với giáo viên trung học phổ thông

Từ bối cảnh chung nêu trên, đặc điểm lao động nghề nghiệp của người GV nói chung và GV THPT nói riêng sẽ phải có những điều chỉnh nhất định. Vận dụng những xu hướng về sự thay đổi chức năng của người GV trong bối cảnh khoa học, kĩ thuật đang phát triển rất nhanh hướng tới nền kinh tế tri thức và xã hội học tập, có thể hình dung những nét cơ bản sau trong đặc điểm nghề nghiệp của người GV THPT như sau :

Thứ nhất, người GV không chỉ còn đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt động tìm tòi, khám phá, sáng tạo của HS, giúp HS tự lực chiếm lĩnh tri thức của nhân loại, dân tộc, hình thành kĩ năng và các phẩm chất chính trị, đạo đức.

Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh, tạo ra sự chuyển dịch về định hướng giá trị, GV phải là nhà giáo dục có năng lực phát triển ở HS về cảm xúc, hành vi, thái độ, đảm bảo người học làm chủ được việc học và biết ứng dụng hợp lý tri thức học được vào cuộc sống của bản thân, gia đình, cộng đồng.

Thứ hai, GV phải là một công dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng. GV là người đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bầu không khí dân chủ, thiết lập các quan hệ xã hội công bằng, tốt đẹp, … trong lớp học, trong nhà trường, từ đó góp phần vào việc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ ba, GV phải có lòng yêu mến, tôn trọng và có khả năng tương tác với HS. GV phải hiểu được sự khác nhau giữa các học sinh trong cách chúng tiếp cận với học hành, đồng thời tạo ra được những cơ hội giảng dạy khác nhau cho phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau.

 Thứ tư, GV phải có năng lực đổi mới PPDH, chuyển từ kiểu dạy học tập trung vào vai trò của GV và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò của HS và hoạt động học; từ cách dạy thông báo – giải thích sang cách dạy hoạt động tìm tòi, khám phá. Trong năng lực đổi mới PPDH, GV phải có khả năng cập nhật và nghiên cứu, vận dụng những PPDH mới, tích cực; biết phối hợp các PPDH truyền thống, hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học.

Hình ảnh có liên quan

Ảnh minh họa. KT internet

Thứ năm, GV phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng cập nhật tri thức khoa học và chuyên ngành hiện đại. Thế giới đang ở trong quá trình của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại với những tác động sâu sắc đến toàn bộ các mặt kinh tế và đời sống xã hội. Khối lượng tri thức nhân loại như một dòng thác khổng lồ đang cuồn cuộn chảy trên xa lộ thông tin.

Những kiến thức nhà trường chuyển giao chỉ là những cơ sở ban đầu cho một quá trình tự học, tự bồi dưỡng. Học là công việc suốt đời của bất kì ai. Đối với người đi dạy, điều đó lại càng quan trọng hơn. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của máy vi tính và công nghệ thông tin, cơ hội tiếp cận tri thức của mỗi người đều bình đẳng với nhau.

Điểm khác nhau cơ bản là khả năng tiếp cận, phát hiện và giải quyết vấn đề. Những kĩ năng đó một phần được bồi dưỡng tiếp tục nhờ vào quá trình tự học sau khi ra trường. Tuy nhiên, tự học không phải là một năng lực có sẵn. Những kĩ năng tự học cần phải được hình thành và bồi dưỡng trong suốt quá trình học tập ở các cấp học, bậc học và quá trình công tác thực tiễn. Trong tương lai, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc học có thể được phân tán theo từng cá nhân ở các địa điểm khác nhau, không nhất thiết người học phải giáp mặt thầy trực tiếp. Nội dung dạy học ở thể được chuyển tải trên tất cả các phương tiện công nghệ thông tin. Người học có thể tiếp cận thông tin ở bất kì mọi nơi, mọi lúc. Khi ấy, kĩ năng tự học càng trở nên quan trọng.

Thứ sáu, GV phải có trình độ tin học và có khả năng sử dụng các phần mềm dạy học cũng như biết cách khai thác mạng Internet phục vụ cho công việc giảng dạy của mình. Trong thời đại công nghệ hiện nay, việc học của học sinh cũng đã có nhiều thay đổi. Thói quen học thuộc một cách thụ động nhường chỗ cho việc tự tìm tòi, khám phá.

Những băn khoăn học sinh gặp phải khi các em tiếp xúc với các nguồn thông tin khác nhau khiến cho các em tìm cách giải đáp. Việc học và chơi ngày càng được gắn với máy vi tính nhiều hơn, thu hút các em nhiều hơn vào sự tìm tòi, khám phá. GV không thể bằng lòng với những thông tin có sẵn trên các trang sách giáo khoa và tài liệu tham khảo. Internet là nguồn thông tin không thể thiếu của những người làm nghề dạy học.

Khai thác thông tin từ Internet phải trở thành thói quen không thể từ bỏ được của mỗi GV. Rõ ràng, kĩ năng làm việc với máy tính trở thành kĩ năng tối thiểu của tất cả mọi người, trong đó có cả GV. Phải để cho máy vi tính và việc sử dụng nó trong tự học và dạy học trở thành nhu cầu thiết yếu, thói quen văn hoá đối với mỗi GV.

Thứ bảy, GV phải có kĩ năng hợp tác. Một trong 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI do UNESCO đề xướng là "học để cùng chung sống". Trên tầm vĩ mô, thế giới ngày càng thu hẹp khoảng cách không gian nhờ vào công nghệ thông tin, nhiều giá trị nhân bản phổ biến đã đã trở thành nét chung của các dân tộc.

Thế giới đòi hỏi sự liên kết toàn cầu trong nhiều lĩnh vực. Khó có thể chấp nhận một quốc gia hay một cá nhân nào trong thời đại ngày nay đứng ngoài quỹ đạo của việc bảo vệ môi trường, chống khủng bố... Trong phạm vi cụ thể, sự hợp tác tạo nên nhiều thành tựu quan trọng đối với mỗi cá nhân. Kĩ năng hợp tác, do đó, cần được bồi dưỡng ở từng GV để đến lượt mình, chính họ sẽ truyền dạy cho HS của mình cách hợp tác trong học tập và cuộc sống.

Thứ tám, GV phải có năng lực giải quyết vấn đề. Cuộc sống của con người, suy đến cùng, là một chuỗi liên tục giải quyết vấn đề. Càng giải quyết tốt các vấn đề bao nhiêu, chất lượng cuộc sống của con người càng có nhiều cơ hội được nâng cao bấy nhiêu. Không nên xem nhà trường như một "ốc đảo" mà nên xem nhà trường chính là cuộc sống.

Các vấn đề thực tế cuộc sống được phản ánh vào nhà trường dưới một lăng kính đủ để cho người học tiếp cận theo cách phù hợp với lứa tuổi của mình. Giải quyết các vấn đề trong các bài học ở nhà trường cũng nên xem như giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Có như vậy HS mới khỏi bỡ ngỡ khi bước vào đời sống thực tế phong phú. Để làm được điều đó, chính GV là những người phải có khả năng giải quyết vấn đề tốt.

TS Bùi Minh Đức