Việc dạy học đang thay đổi như thế nào: 15 thách thức cho người giáo viên thế kỉ XXI

Ngày cập nhật : 10/07/2018

Giáo dục sẽ thay đổi như thế nào trong 20 năm tới là một lựa chọn hơn là một cao trào tất yếu trong công cuộc thay đổi xã hội và công nghệ. Hãy nghĩ về những thay đổi rất hạn chế trong giáo dục kể từ năm 2000 so với nền công nghiệp tự động, công nghiệp máy tính, công nghiệp tiêu thụ bán lẻ,… Sự tiến bộ vượt bậc trong tương lai không phải một kết luận chắc chắn.

Ảnh minh họa/internet

Thật thú vị khi nói rằng dù công nghệ du nhập vào giáo dục bao nhiêu, mỗi giáo viên đều luôn luôn cần biết những công việc khuôn mẫu như đánh giá, thiết kế chương trình, quản lí lớp học và trau dồi kinh nghiệm.

Điều này cuối cùng có thể trở thành sự thực – giáo dục sẽ thay đổi như thế nào trong 20 năm tới là một lựa chọn hơn là một cao trào tất yếu trong công cuộc thay đổi xã hội và công nghệ. Hãy nghĩ về những thay đổi rất hạn chế trong giáo dục kể từ năm 2000 so với nền công nghiệp tự động, công nghiệp máy tính, công nghiệp tiêu thụ bán lẻ,… Sự tiến bộ vượt bậc trong tương lai không phải một kết luận chắc chắn.

Tuy nhiên, giáo dục hẳn sẽ có sự khác biệt so với trước đó. Có những lĩnh vực nhất định thay đổi nhanh hơn những lĩnh vực khác. Không có nghĩa là giáo dục trực tuyến (eLearning) – như chúng ta hiểu và sử dụng khái niệm này – sẽ thay thế trường học và giáo viên. Xét theo nhiều khía cạnh quan trọng, các khóa học trực tuyến không đủ tốt so với các khóa học thực để có thể hất cẳng giáo viên và trường học. (Học tập đa phương tiện sẽ trở nên phổ biến vào thập kỉ tới.)

Chúng tôi từng viết về những điều giáo viên hiện đại phải làm. Dưới đây là 15 nhiệm vụ ít liên quan đến kĩ năng và hơi thiên về khái niệm cho thấy việc dạy học đang thay đổi như thế nào.

Việc dạy học sớm muộn sẽ không còn là câu chuyện về đánh giá, kiểm tra và truyền đạt nội dung.

Việc dạy học đang thay đổi như thế nào: 15 thực trạng mới mà mỗi nhà giáo dục phải đối mặt.

Thực trạng
Trước đây
Hiện nay
Sự khác biệt
Tóm tắt
1. Cá nhân hoá
Quản lí đánh giá, chấm bài thực hành, báo cáo kết quả và sau đó có thể là điều chỉnh một cách cứng nhắc theo ý muốn của bạn
Xác định, ưu tiên và đánh giá hồ sơ cá nhân của từng học sinh
Tính chính xác
Xác định kiểu dữ liệu nào là quan trọng nhất đối với mỗi học sinh, tìm ra một phương pháp phù hợp để lấy được kiểu dữ liệu đó rồi phân tích cá nhân hoặc thực hiện thuật toán mà bạn cảm thấy hiệu quả.
Việc này giống như thợ cơ khí ô tô di chuyển bộ chế hòa khí đến các hệ thống phun nhiên liệu (bản thân họ không trở nên lạc hậu) trong những năm 1980 và 1990. Ban đầu, bộ phận này cần được sửa chữa thường xuyên và “điều chỉnh” bằng tay; sau này, công việc được thực hiện chính xác hơn nhiều và yêu cầu kĩ năng cơ khí mới. Thay vì trực tiếp điều chỉnh cơ khí, người thợ trở thành người quản lí hệ thống. Nghĩa là, họ dành nhiều thời gian hơn để điều chỉnh hệ thống – cảm biến, ECU,… mà chính họ từng phải thực hiện bằng tay.
2. Mẫu hồ sơ
Con số, chữ cái và có thể là đồ thị hoặc biểu đồ tròn
Thiết kế hồ sơ thật đẹp (Hoặc ít nhất là sinh động.)
Ý nghĩa và khả năng tiếp cận
Càng ngày giáo viên càng phải thiết kế hồ sơ sao cho ý nghĩa và bắt mắt. Những ngày làm bài kiểm tra và chờ đợi kết quả đã đi vào dĩ vãng. Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ thiết lập một quá trình cho kết quả dữ liệu ngay lập tức trừ khi dữ liệu đó được phân bổ nhằm liên tục điều chỉnh chương trình, đánh giá và việc dạy học.
Hoặc hơn thế, quản lí nội dung mà một học sinh cần biết và khi nào thì cho học sinh tiếp cận; học sinh kết nối với cộng đồng nào và khi nào; mức độ ” nhận thức” mà học sinh đạt được và vào thời điểm nào. Xem ví dụ trực quan hóa dữ liệu ở dưới.
3. Quản lí lớp học
Hạn chế các tương tác tiêu cực (ẩu đả, bắt nạt,…), thúc đẩy việc tuân thủ nội quy và “kì vọng”
Phân tích và điều phối các tương tác xã hội của học sinh
Thước đo
Chuẩn mực có thể là cộng đồng thực hoặc ảo. Giáo viên cần phải khuyến khích học sinh, dù trong lớp học, trường học và trong khuôn viên nhà trường hoặc cộng đồng địa phương, tham gia một tình huống học tập thực tế hoặc giả định. Dạy cho học sinh quyền công dân kĩ thuật số, cách giao tiếp và khả năng quan trọng hơn là chỉ giảng dạy nội dung.
Đây là một thực tế phải đối mặt hôm nay, không phải ngày mai.
4. Việc giảng dạy
Truyền đạt nội dung được thiết kế dựa trên nhu cầu quốc tế
Khơi gợi cảm xúc và sự tò mò
Thực sự tôn trọng ý kiến của học sinh
Giáo viên ngày nay không chỉ cần chứng minh cho học sinh cách giải quyết vấn đề mà còn phải giải thích tại sao cần giải quyết nó. Giáo viên hạn chế việc tạo ra một đơn vị PBL để học sinh hoàn thành, tăng cường dạy học sinh cách nhận biết và thực hiện thông qua những nhu cầu đó. Đây là nhân tố cảm xúc – tôn trọng suy nghĩ và không gian xung quanh bạn, coi đó là cách sống.
Tương tự với sự tò mò – trình bày suy nghĩ thông qua sự tự đối chiếu. Thử thách các giả định của học sinh thông qua nhận xét trực tuyến hoặc các tương tác trực tiếp – kết nối học sinh với các cộng đồng có thể thực hành tương tự.
5. Nội dung
Việc dạy học ban đầu là “một lớp học” và sau đó nó trở thành một danh sách các tiêu chuẩn
Đáp ứng hàng trăm tiêu chuẩn học thuật – các tiêu chuẩn bao gồm công nghệ, quyền công dân, khả năng đọc viết,… Những thứ này vượt ra ngoài “lĩnh vực nội dung”.
Tích hợp
Giáo viên không chỉ biết về tiêu chuẩn, lên kế hoạch rồi dạy mà còn phải điều chỉnh sự không thống nhất bên trong và bên ngoài các lĩnh vực nội dung “theo trục ngang” rồi sau đó nâng cao theo “trục dọc”. Hơn thế, chẳng bao lâu nữa, vấn đề không chỉ là lớp học hay lĩnh vực nội dung mà là các tiêu chuẩn từ các tổ chức hợp tác có thiện chí nhưng yêu cầu của họ thì không đoán trước được.
6. Giáo án
Chia nhóm, thiết kế hoạt động học tập và “một hệ thống” bài tập về nhà
Cá nhân hóa tiến trình công việc trong bối cảnh thay đổi thường xuyên (hồ sơ học sinh, những điều cần biết, hứng thú của học sinh, thay đổi trong cộng đồng…), sử dụng lớp học lấy học sinh làm trung tâm, các ứng dụng công nghệ và học tập tự định hướng.
Tính xác thực
Trong bối cảnh và hoàn cảnh của địa phương – công nghệ, các cơ hội và thách thức xã hội,… – kiểu tiến trình công việc nào là hiệu quả nhất đối với học sinh?
Có nên cho học sinh trải nghiệm tất cả các cộng đồng địa phương không? Ở chỗ này có ý nghĩa hơn ở chỗ khác không?
Với thói quen và cách tiếp cận khả năng đọc viết ở địa phương, có nên dành thêm thời gian tập trung, đánh giá hay chia sẻ các nguồn tài liệu không? Chúng ta nên có sự điều chỉnh như thế nào dựa trên hiểu biết về thế giới mà học sinh đang sống?
Đối với các đề tài nghiên cứu – nông nghiệp, robot, văn học, âm nhạc…, việc giảng dạy trực tiếp hay trong không gian số có hiệu quả hơn?
Ngay lúc này, học sinh thực gì cần gì?
7. Học sinh
Nhận một danh sách lớp
Biết về gia cảnh, nơi ở và tiềm năng của học sinh
Trở thành một quá trình nhân bản hơn
Điều này đưa chúng ta trở lại với mục 6 (mấu chốt của vấn đề) – nắm bắt các công nghệ và công cụ, sử dụng chúng sao cho phù hợp với học sinh. Việc ứng dụng công nghệ vào dạy học không mới nhưng độ phức tạp của nó luôn mới.

Ví dụ trực quan hóa dữ liệu:

“Trong ví dụ này, nhóm của Deb Roy ghi lại mỗi lần con trai của anh nghe từ “nước” cùng với ngữ cảnh mà từ đó xuất hiện. Sau đó, họ sử dụng dữ liệu này để tìm hiểu video, tìm mọi dấu vết hoạt động xảy ra với một trường hợp của “nước” và đánh dấu nó trên bản thiết kế của căn hộ. Đó là cách họ tìm ra ngữ cảnh: cảnh quan mà ở đó dữ liệu được sử dụng.”

Không thể tin được, phải không? Sau đó, giáo viên tương lai sẽ cần chọn ra các loại chỉ số quan trọng (xem ở trên) và cách thức trình bày làm nổi bật các hình mẫu, xu hướng và năng lực quan trọng.

Các thực trạng khác mà giáo viên hiện nay phải đối mặt

  1. Việc thiết kế các trải nghiệm học tập có thể có độ vênh giữa ở nhà và ở trường. Vì thế, không gian “trường học” bị làm mờ và thậm chí tạo ảo tưởng rằng bạn đang tách mình khỏi công việc.
  2. Xử lí các sự cố công nghệ, bao gồm các vấn đề bảo mật, thông tin đăng nhập,…
  3. Kiểm tra việc học sinh làm việc độc lập hay tương tác thông qua số điểm giao tiếp xã hội mỗi tuần; hợp thức hóa các vấn đề pháp luật, thông tin sao kê,…
  4. Chọn lọc các câu hỏi trên nền tảng cá nhân học sinh
  5. Chú trọng chất lượng – bài thực hành, bài viết, sự nỗ lực,… – khi việc viết giáo án, công nghệ và tự phản hồi không hiệu quả
  6. Đánh giá tính hiệu quả của công nghệ dạy học (phần cứng, phần mềm và sự vận hành của từng thứ)
  7. Chọn lọc các ứng dụng dựa trên hệ điều hành, chi phí, độ phức tạp, tính năng, số người sử dụng và mục đích
  8. Chọn lọc và tuyên dương việc học tập, hiểu bài, lỗi lầm, sự tiến bộ, sự sáng tạo, sự cải tiến, mục tiêu học tập và các khái niệm trừu tượng khác về dạy – học.

Terry Heick

Theo Táo giáo dục